Cá da phiến Placodermi là một lớp cá có giáp tiền sử, chỉ được biết đến từ các hóa thạch Hậu Silur

in Blogs CGCP



Placodermi (from the Greek πλάξ = plate and δέρμα = skin, literally “plate-skinned”) is a class of armoured prehistoric fish, known from fossils, which lived from the Silurian to the end of the Devonian period. Their head and thorax were covered by articulated armoured plates and the rest of the body was scaled or naked, depending on the species. Placoderms were among the first jawed fish; their jaws likely evolved from the first of their gill arches. Placoderms are paraphyletic, and consist of several distinct outgroups or sister taxa to all living jawed vertebrates, which originated among their ranks. This is illustrated by a 419-million-year-old fossil, Entelognathus, from China, which is the only known placoderm with a type of bony jaw like that found in modern bony fishes. This includes a dentary bone, which is found in humans and other tetrapods.[1][2] The jaws in other placoderms were simplified and consisted of a single bone.[3] Placoderms were also the first fish to develop pelvic fins, the precursor to hindlimbs in tetrapods, as well as true teeth.[4] Paraphyletic groupings are problematic, as one can not talk precisely about their phylogenic relationships, their characteristic traits and literal extinction.[5][6] 380-million-year-old fossils of three other genera, Incisoscutum, Materpiscis and Austroptyctodus, represent the oldest known examples of live birth.[7]

In contrast, one 2016 analysis concluded that placodermi are likely monophyletic.[8]

The first identifiable placoderms appear in the fossil record during the late Llandovery epoch of the early Silurian.[9] The various groups of placoderms were diverse and abundant during the Devonian, but became extinct at the end-Devonian Hangenberg event 358.9 million years ago [10]

Cá da phiến (Placodermi) là một lớp cá có giáp tiền sử, chỉ được biết đến từ các hóa thạch, đã từng sinh sống trong thời gian Hậu Silur tới cuối kỷ Devon. Đầu và ngực của chúng được che phủ bằng các tấm giáp có khớp còn toàn bộ phần còn lại của thân có vảy hoặc trần trụi, phụ thuộc vào từng loài. Cá da phiến thuộc về nhóm cá có quai hàm đầu tiên; các quai hàm của chúng có lẽ đã tiến hóa từ các cung mang thứ nhất của chúng. Hóa thạch 380 triệu năm tuổi của một loài đại diện cho ví dụ cổ nhất đã biết về cá sinh con[1].

Dạng cá có thể coi là cá da phiến đầu tiên đã tiến hóa trong Hậu Silur; chúng bắt đầu suy giảm mãnh liệt trong sự kiện tuyệt chủng Hậu Devon, và toàn bộ lớp này đã tuyệt chủng vào cuối kỷ Devon. Các hóa thạch cổ nhất đã biết được tìm thấy tại Trung Quốc.

Các hóa thạch sớm nhất có thể coi là của cá da phiến có tại Trung Quốc và có niên đại từ Trung tới Hậu Silur. Chúng đã phân dị thành các bộ Cá hậu môn ngược (Antiarchi) và Cá cổ khớp (Arthrodira), cùng với các nhóm khác nguyên thủy hơn. Dường như cá da phiến đã đa dạng hóa từ khá lâu trước khi tới kỷ Devon, vào khoảng tiền hay trung Silur, mặc dù các hóa thạch sớm hơn của Placodermi cơ sở vẫn chưa được tìm thấy trong các địa tầng này.

Hồ sơ hóa thạch kỷ Silur của cá da phiến là hoàn toàn phân mảnh. Tất cả các hóa thạch cá da phiến đã biết ngày nay chỉ là các mảnh vỡ, hoặc là các mảnh giáp vụn, hoặc là các vảy rời rạc, trong đó một số được nhận dạng một cách không chắc chắn là Antiarchi hoặc là Arthrodira do các tương đồng mô học. Mặc dù chúng đã được nhận dạng, nhưng nhiều loài trong các nhóm Arthrodira và Antiarchi thuộc kỷ Silur vẫn chưa có mô tả chính thức hay thậm chí là đặt tên. Một điều nghịch lý là mẫu được biết tốt nhất hay được trích dẫn nhiều nhất về cá da phiến kỷ Silur, Wangolepis ở Trung Quốc, chỉ được biết đến từ một vài mảnh vỡ mà hiện tại đang thách thức các cố gắng nhằm đặt chúng vào bất kỳ bộ cá da phiến nào đã được công nhận.

Các nhà cổ sinh vật học và các chuyên gia về cá da phiến nghi ngờ rằng sự thưa thớt của các mẫu hóa thạch cá da phiến kỷ Silur là do cá da phiến đã sống trong các môi trường không có lợi cho việc bảo tồn hóa thạch chứ không phải sự thưa thớt thật sự. Giả thiết này hỗ trợ cho việc giải thích cho biểu hiện bề ngoài dường như là kỳ lạ của cá da phiến cũng như sự đa dạng lớn ở ngay đầu kỷ Devon.

Nhiều loài cá da phiến, cụ thể là các nhóm Rhenanida, Petalichthyida, Phyllolepida, Antiarchi là các động vật ăn đáy. Vì thế, Placodermi đã từng bị hiểu sai như là một tông các loài ốc ăn đáy và “xe rác”, mặc dù trên thực tế chúng là nhóm động vật có xương sống thống lĩnh trong kỷ Devon. Phần lớn các loài cá da phiến là động vật săn mồi, trong đó nhiều loài sống ở hay gần đáy. Tuy nhiên, nhiều loài khác, chủ yếu thuộc bộ Arthrodira, là những loài cá kiếm ăn ở các tầng nước giữa hay trên và là những kẻ săn mồi tích cực. Loài lớn nhất đã biết thuộc bộ này, Dunkleosteus telleri, dài tới 8–11 m, và được cho là có sự phân bố gần như toàn cầu, do các dấu tích còn lại của nó được tìm thấy ở châu Âu, Bắc Mỹ và Maroc.

source

関連記事

前の投稿
上司、私の尻を締め付けないでください。 もしかしたら犬がそう言ったのかもしれない。
次の投稿
飼い主さんが座って毛皮を乾かしてくれると、子犬はとても興奮します。